Hai Bà Trưng và tiếng trống Mê Linh

Sử sách ghi lại, dân tộc Việt có nhiều cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc ngoại xâm, gìn giữ giang sơn gấm vóc, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán vào mùa Xuân năm Nhâm Tý của Hai Bà Trưng và thế hệ Lĩnh Nam. Những Anh thư Hào kiệt đã hy sinh trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, dựng lại ngọn cờ tự chủ cho dân tộc Việt. Cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán đã viết nên trang sử hào hùng trong lịch sử Đông phương nói riêng và cả thế giới nói chung. Đến nay, tấm gương anh dũng của Hai Bà vẫn đang được các nữ lưu hậu duệ noi theo trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

Năm 34, Tô Định được nhà Hán cử sang làm Thái thú, xuống đồng bằng sông Hồng để tiến hành Hán hóa quận Giao Chỉ. Với sự ngang ngược bạo tàn, Tô Định đã bắt giết nhiều Lạc hầu, Lạc tướng và hành hạ người dân Việt bằng cách đày lên rừng tìm ngà voi và xuống biển mò ngọc trai, khiến dân chúng lầm than. Vì thế, ông Đặng Thi Sách gửi kháng thư đòi Tô Định phải chấm dứt sự lộng hành. Chẳng những Tô Định không nghe, mà còn bắt giết ông Thi Sách và gia tăng đàn áp dân lành.

Cái chết của ông Thi Sách đã châm ngòi cho cuộc tổng khởi nghĩa âm ỉ từ lâu, bắt đầu từ bà Trắc là vợ của ông Thi Sách. Bà là cháu ngoại của vua Hùng và em sinh đôi là bà Nhị cùng tế cáo trời đất dựng cờ khởi nghĩa tại huyện Mê Linh.

Trong một đêm Xuân, ngày mùng 6 tháng Giêng năm Canh Tý, hai Bà với binh phục màu vàng đã bước lên lễ đài thề rằng:
“Một xin, rửa sạch thù nhà,
Hai xin, dựng lại nghiệp xưa vua Hùng…”

Sau đó, trong tiếng trống Mê Linh vang rền giữa đêm Xuân, hai Bà cởi voi, phất ngọn cờ vàng, trực chỉ tiến về Liên Lâu, hết làng này qua làng khác, cùng với lời kêu gọi vùng lên dẹp giặc ngoại xâm đem lại thanh bình cho đất nước, tiếng trống Mê Linh vồn dập như dục giã vang lên từng hồi đã nhanh chóng làm thức tỉnh nhiều con dân nước Việt, nên chẳng bao lâu khắp nơi đều nhất tề nổi dậy.

Cuộc tiến binh vượt ra khỏi lãnh thổ Văn Lang lên đến phía Nam của Động Đình Hồ, đoàn quân của hai Bà ngày càng đông đảo khi tiến đến vùng Lưỡng Việt (Quảng Đông và Quảng Tây). Với thành phần tướng lãnh vô cùng hùng hậu như: Doãn Công, Ông Hựu, Ông Đông, Đào Kỳ, Phương Dung, Bạch Nương, Hồng Nương, Tía Nương, Lê Chân, Bát Nàn, Bảo Châu, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ…

Chia quân làm 2 đạo, mỗi Bà cầm một đạo quân tiến nhanh như chẻ tre làm cho bọn giặc xâm lược không kịp trở tay, dắt nhau trốn chạy.

Tại Liên Lâu, tập trung các đoàn quân nhỏ cùng với 2 đạo quân lớn, nhất là 2 đoàn quân do 2 nữ tướng tài ba chỉ huy là Ả Tắc và Ả Di bao vây và cùng tiến đánh. Liên Lâu thất thủ, Tô Định dẫn quân chạy về Hoa Đông thì bị phục binh, đại bại.

Sau chiến thắng, hai Bà lên ngôi xưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị.

Cuộc khởi nghĩa năm 40 (Canh Tý) đã làm rúng động cả triều đình nhà Hán. Hai năm sau với tham vọng thôn tính Giao Chỉ, Mã Viện chỉ huy 2 vạn đại quân, từ Hồ Nam mở đường xẻ núi tiến đánh nước Nam.

Năm 43 (Quý Mẹo), trải dài 4 mặt trận đẫm máu, một đạo binh của hai Bà do nữ tướng trẻ, chưa đầy 30 tuổi giết chết tướng giặc là Bình Hầu Hán Vũ tại địa danh Lãng Bạc.

Tại mặt trận Mê Linh, hai Bà bị Mã Viện dùng thế gọng kềm đưa quân vây hãm, nên lui binh về Kim Khê trấn thủ. Mê Linh thất thủ, các nữ tướng chỉ huy đều nhảy xuống ngã ba sông Hồng và sông Hát tuẩn tiết.

Mã Viện tiếp tục truy đuổi, tập trung lực lượng vây đánh Kim Khê, trong khi quân Hán ngày càng gia tăng quân số thì quân binh của hai Bà bị suy yếu nên phải rút lui ra sông Hát. Gần đến sông Hát bị đạo quân tiên phong của Mã Viện truy kích, biết không xong hai Bà cùng nhiều tướng sĩ như Cao Thị Liên, Nàng Quốc, Ngọc Kính, Phùng Tú, Phùng Huyền, Hoàng Cát tự sát tại mặt trận hoặc gieo mình xuống Hát Giang tuẩn tiết.

Quân của Mã Viện ồ ạt tiến về Sơn Nam, các tướng lãnh khác rút về Thần Phù. Tía Nương lúc ấy ở tuổi 20, can trường ở lại ngăn chận mũi tiến công, chống trả với gần 2 vạn tinh binh, đến lúc cuối không muốn bị lọt vào tay giặc, đã can trường nhảy xuống cửa biển Thần Phù tự ải.

Dẫu rằng cô thế, hai Bà không gặp thời nhưng được lưu danh thiên cổ. Lịch sử đã ghi công hai Bà và hàng trăm tướng lãnh dưới trướng, cùng hàng ngàn anh hùng, liệt nữ đã hy sinh vì đại nghĩa. Đền thờ hai Bà do dân chúng Lưỡng Việt nhớ ơn lập ra tại xã Hát Môn, đến nay vẫn còn khói hương nghi ngút.

Hàng năm đến ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, khắp mọi nơi đều tổ chức lễ tưởng niệm để nhớ đến công đức Hai Bà Trưng cùng thế hệ Lĩnh Nam và nhắc nhớ đến truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt.

Tiếng trống Mê Linh dựng lại tinh thần dân tộc tự chủ và truyền thống chống ngoại xâm thuở nào, một lần nữa đang vang rền trên đất Việt, đồng bào trong nước đang vùng lên tranh đấu giải thể chế độ cộng sản Việt Nam và mở ra trận chiến đòi lại chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà tập đoàn lãnh đạo cộng sản ươn hèn đã dâng hiến cho Tàu Cộng.

Thế hệ Lĩnh Nam khi xưa nghe tiếng trống Mê Linh vang rền, thôi thúc tinh thần dân tộc tự chủ, đã không ngại hiểm nguy, xông pha trận mạc chống giặc ngoại xâm. Năm nay, tiếng trống Mê Linh một lần nữa lại vang rền trên đất Việt, kêu gọi toàn dân “dẹp nội thù, chống ngoại xâm” và tiếng trống lần này sẽ là tiếng trống báo hiệu sự cáo chung của đảng Cộng sản Việt Nam.

(Việt Thái, DLSN)

This entry was posted in VNTS.

Comments are closed.