Tổng Đốc Hoàng Diệu. 1828-1882 (AHDT)

(Việt Thái)

Kính thưa quý thính giả, lịch sử Việt Nam thời cận đại ghi lại, không chỉ có cụ Phan Thanh Giản giữ tiết tháo của một sĩ phu trước cơn quốc nạn, đã tuẫn tiết sau khi giao thành cho Pháp để cứu dân thoát khỏi nạn binh lửa. Một vị Tổng đốc, từng là Thượng thư bộ Binh cũng đã tự sát để không rơi vào tay giặc khi Thăng Long thành thất thủ.

“Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa,
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên.”

Đó là hai câu đối nói về Hoàng Diệu trong đền Trung Liệt tại gò Đống Đa.

Tạm dịch:
Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất,
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh.

Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, về sau mới đổi là Hoàng Diệu, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai. Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm Mậu Tý (1828), trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Gia đình ông có 7 anh em đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng.

Sử chép, gia đình Hoàng Diệu có một người đỗ Phó bảng, ba người đỗ Cử nhân, hai người đỗ Tú tài trong các kỳ thi dưới thời vua Tự Đức.

Trong các anh em, Hoàng Diệu là người nổi bật nhất, năm Mậu Thân (1848) lúc 20 tuổi đã đỗ Cử nhân cùng với anh trai Hoàng Kim Giám trong khoa thi Hương tại Thừa Thiên. Năm 25 tuổi, ông đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu (1853), thời vua Tự Đức.

Năm 1851, ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước, thăng lên Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định).

Năm 1868, Hoàng Diệu ra Bắc giữ các nhiệm vụ: Tri phủ Đa Phúc, Tri phủ Lạng Giang, Án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh. Trong 9 năm, ông lập nhiều công lớn trong việc dẹp trộm cướp an dân nên được dân chúng trong vùng quý mến.

Năm 1873, ông được triệu về kinh đô Huế giữ các chức vụ Tham tri bộ Hình, Tham tri bộ Lại kiêm Đô Sát Viện.

Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh), nhưng vì Tổng đốc Nguyễn Chính vẫn còn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế, làm Tham tri bô Lại. Chẳng bao lâu sau, ông được sung chức Phó Toàn quyền, làm Đại Thần đàm phán với Sứ thần Tây Ban Nha trong một hiệp ước giao thương.

Năm 1873, sau khi chiếm được Nam Bộ, Pháp chuẩn bị tiến ra Bắc Bộ. Vua Tự Đức giao phó cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh, sau đó giữ chức Thượng thư bộ Binh.

Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngay khi tới Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu đã chú tâm tới việc xây dựng thành lũy chuẩn bị lực lượng để chống Pháp. Từ năm 1880 đến 1882, ông đã đôi ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.

Đầu năm 1882, lấy cớ Việt Nam không tôn trọng hiệp ước năm 1873, dung túng quân Cờ Đen và ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng, Đại tá Henri Rivière của Hải quân Pháp đem tàu chiến cùng thủy quân đóng tại Đồn Thủy (cách Hà Nội 5 cây số) nhằm uy hiếp Hà Nội.

Hoàng Diệu đã hạ lệnh giới nghiêm tại Hà Nội và ra lệnh các tỉnh xung quanh sẵn sàng tác chiến, đồng thời yêu cầu triều đình Huế gửi viện binh. Tuy nhiên phe chủ bại của triều đình Huế đã thuyết phục vua Tự Đức chấp nhận mất miền Bắc để giữ an toàn cho ngai vàng. Vua Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu vì đã chống lệnh triều đình.

Các quan viên kề cận Hoàng Diệu lúc bấy giờ có Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau thề quyết tâm sống chết với Hà thành.

Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, Henri Rivière cho 4 tàu chiến bắn đại bác yểm trợ cho 450 người và một số thân binh đổ bộ chiếm thành Hà Nội.

Quân Pháp gặp phải sự kháng cự quyết liệt của dân quân dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu nên bị thiệt hại nặng, phải rút quân.

Trong lúc chiến sự diễn ra khốc liệt thì kho thuốc súng trong thành Hà Nội nổ tung, dẫn tới đám cháy lớn làm cho quân sĩ hoang mang. Quân Pháp thừa cơ, phá được cửa Tây thành Hà Nội. Bố chính Phan Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh và Lãnh binh Lê Trực bỏ chạy.

Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục chỉ huy quân sĩ chiến đấu. Cuối cùng, biết không thể giữ được thành, ông đã ra lệnh cho quân sĩ tan hàng để tránh thương vong, một mình vào hành cung, thảo tờ di biểu, sau đó ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

Tờ di biểu bằng máu của ông tạ tội với vua Tự Đức, viết như sau:

“Thành mất không sao cứu được, thật hổ thẹn với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng…”

Vua Tự Đức, mặc dù không đồng ý Hoàng Diệu giữ thành Hà Nội, nhưng vẫn phải hạ chiếu thư, khen ông đã tận trung tử tiết và cho làm lễ quốc táng.

Tôn Thất Thuyết, một đại biểu nổi tiếng của giới sĩ phu chống Pháp đã ca ngợi Hoàng Diệu trong hai câu đối:

“Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện,
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm.”

Tổng đốc Hoàng Diệu đã giữ đúng tiết tháo của một sĩ phu trước cơn quốc nạn. Mặc dù mất thành phải tuẩn tiết, nhưng tên tuổi của ông vẫn có vị trí sáng ngời trong tâm hồn của những con dân Việt còn tha thiết đến tiền đồ của đất nước và hạnh phúc của toàn dân.

[nguồn: ĐLSN]

This entry was posted in Anh Hùng Dân Tộc.

Comments are closed.