Hai Bà Trưng và tiếng trống Mê Linh – 40 (AHDT)

(Việt Thái – Đài ĐLSN)

Giao Chỉ là danh từ riêng để chỉ một vùng đất phía Nam, vương quốc của Đường Nghiêu – Ngu Thuấn. Vào đầu thời Chu, Giao Chỉ là Đan Dương (nay thuộc Hồ Bắc, Trung Hoa). Sau ngàn năm Nam tiến của phương Bắc, dân Giao Chỉ di chuyển dần về phương Nam. Đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới trở thành địa danh cố định trên bản đồ.

Nhà nước Văn Lang, quốc gia sơ khai của dân Lạc Việt, được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Hoa) vào khoảng năm 1199 trước Công Nguyên (CN). Các vua Hùng sau cùng trong số 18 đời Hùng Vương đã lánh giặc Sở, di dân xuống đồng bằng Tây Giang (Quảng Tây) và dựng lại nước Văn Lang Động Đình Hồ gọi là Văn Lang Tây Giang.

Thục Phán của nước Thục (Quí Châu) ở Tây Bắc Quảng Tây đã thôn tính Văn Lang Tây Giang và dựng lên nước Tây Âu Lạc. Rất nhiều cư dân Văn Lang Động Đình Hồ tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng sông Hồng trước và sau năm 179 TCN.

Địa bàn cư trú và sinh hoạt của người Lạc Việt cổ gồm Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam. Lạc Việt chính là Nước Việt hay Việt Thường Quốc. Người Lạc Việt ủng hộ Triệu Đà lập nên nước Nam Việt có kinh đô tại Phiên Ngung và gọi nơi ấy là Âu Lạc. Từ đó sinh ra danh từ riêng Tây Âu Lạc, là vùng đất phía Tây Phiên Ngung. Sau năm 179 trước CN, người Lạc Việt ở Tây Âu Lạc chạy giặc Triệu Đà xuống Bắc Việt và đã chung sống với cư dân Lạc Việt Động Đình Hồ cùng nguồn cội.

Thái thú Tô Định

Năm 23, Lưu Tú dẹp được Vương Mãng tiếm quyền, nhưng vì Trường An đổ nát, hoang tàn trong khói lửa nên dời đô về phía Đông, đến Lạc Dương lập nên nhà Hậu Hán. Năm 25, Nhâm Diên được cử sang Cửu Chân để tiếp nối cuộc thám sát vùng đất Việt cổ.

Năm 34, Hán triều cử sứ đoàn do Tô Định cầm đầu xuống đồng bằng sông Hồng để tiến hành Hán hóa quận Giao Chỉ. Nhiệm vụ của tân Thái thú là phải xây dựng guồng máy nhằm biến quận Giao Chỉ thành mảnh đất trên bản đồ đại Hán. Tô Định đã tiến hành khủng bố, nhân danh thiên tử, đã áp dụng Hán luật vào đời sống dân Việt.

Hai Bà Trưng nổi trống đồng khởi nghĩa năm 40, được dân Việt đồng thanh hưởng ứng khắp nơi và cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà đã thành công nhanh chóng.

Chiến tranh Hán-Việt

Chiến tranh Hán-Việt là tên của cuộc chiến do tướng Mã Viện chỉ huy đánh đoàn quân của Hai Bà Trưng ở Giao Chỉ trong hai năm 42-43. Tại phương Bắc, Hán Quang Vũ hoàn thành việc thống nhất Trung Hoa sau cuộc chiến kéo dài từ cuối thời nhà Tần. Trong nước chỉ còn những cuộc nổi dậy chống đối nhỏ, vì vậy vua Hán mới để ý đến Giao Chỉ.

Năm 42, Hán Quang Vũ Lưu Tú hạ chiếu cho các quận Trường Sa, Hợp Phố sửa đường xá, chuẩn bị xe thuyền và gom lương thực để đưa quân đi đánh Giao Chỉ. Lưu Tú phong Mã Viện (58 tuổi), viên tướng giàu kinh nghiệm chiến trường làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng, Đoàn Chí làm Lâu thuyền tướng quân. Nhà Hán lấy 8.000 quân từ các quận Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng và 12.000 quân từ bộ Giao Chỉ. Tổng cộng quân Hán có 20 ngàn người cùng 2000 xe thuyền và đoàn quân này gồm toàn người Hoa Nam, quen thuộc thủy thổ phương Nam tiến đánh Giao Chỉ.

Phất cờ khởi nghĩa

Trong một đêm Xuân, mùng 6 tháng Giêng năm Canh Tý, hai Bà với binh phục màu vàng đã bước lên lễ đài thề rằng:

“Một xin, rửa sạch thù nhà,
Hai xin, đem lại nghiệp xưa vua Hùng”

Sau đó trong tiếng trống vang rền giữa đêm Xuân, hai Bà đã cỡi voi, phất ngọn cờ vàng, trực chỉ tiến về Liên Lâu, hết làng này qua làng khác với lời kêu gọi dẹp giặc ngoại xâm, đem lại thanh bình cho đất nước. Tiếng trống dồn dập và giục giã vang lên từng hồi đã nhanh chóng thức tỉnh nhiều con dân nước Việt, nên chẳng bao lâu khắp nơi đều nhất tề nổi dậy.

Tiểu sử và công đức

Từ năm 34, Tô Định được nhà Hán cử sang làm Thái thú. Với sự ngang ngược bạo tàn, Tô Định đã bắt giết nhiều Lạc Hầu, Lạc Tướng. Họ Tô còn hành hạ người dân Việt bằng cách đày lên rừng tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, vơ vét của cải, khiến dân chúng lầm than. Chính vì thế, ông Đặng Thi Sách gửi thư đòi Tô Định phải chấm dứt sự lộng hành. Chẳng những không nghe, Tô Định còn bắt giết ông và gia tăng sự tàn bạo.

Cái chết của ông Thi Sách đã châm ngòi cho cuộc tổng khởi nghĩa đã âm ỉ từ lâu, bắt đầu từ bà Trắc là vợ của ông. Bà là cháu ngoại của vua Hùng, cùng em sinh đôi là bà Nhị dựng cờ khởi nghĩa tại huyện Mê Linh.

Với tinh thần độc lập tự chủ trong việc xác định chủ quyền của đất nước, hai Bà đã chiêu mộ quân binh. Những tiếng trống trong rừng Mê Linh đã vang lên, đánh thức tinh thần dân tộc, khơi dậy ý chí tranh đấu để cứu nguy Tổ Quốc. Từ nỗi đau riêng đã chuyển thành hận chung, với tình nhà nợ nước. Nỗi uất hận đã chuyển thành sức mạnh. Cả dân tộc Việt đã đồng loạt đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm khởi từ tiếng trống Mê Linh, làm khiếp vía tên thái thú Tô Định và đoàn quân xâm lược của phương Bắc.

Cuộc tiến binh vượt ra khỏi lãnh thổ Văn Lang lên đến phía nam Động Đình Hồ. Đoàn quân ngày càng đông đảo khi tiến đến vùng Lưỡng Việt (Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay), với thành phần tướng lãnh hùng hậu như Doãn Công, Ông Hựu, Ông Đông, Đào Kỳ, Phương Dung, Bạch Nương, Hồng Nương, Tía Nương, Lê Chân, Bát Nàn, Bảo Châu, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ…

Chia quân làm hai đạo, hai Bà tiến chiếm mục tiêu như chẻ tre làm cho bọn giặc xâm lược không kịp trở tay, dắt nhau trốn chạy. Tại Liên Lâu, hai Bà sát nhập các đoàn quân nhỏ thành hai đạo quân lớn, do hai nữ tướng tài ba Ả Tắc và Ả Di chỉ huy, bao vây và cùng tấn công. Liên Lâu thất thủ, Tô Định dẫn quân chạy về Hoa Đông thì bị phục binh nên đại bại.

Chưa đầy một tuần trăng kể từ ngày xuất quân, hai Bà đã thu giang sơn về một mối, gồm Long Biên và 64 thành trì. Hai Bà cùng thế hệ Lĩnh Nam đã viết nên trang sử oai hùng cho dân tộc. Sau chiến thắng, hai Bà lên ngôi xưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị.

Cuộc khởi nghĩa năm 42 (Nhâm Tý) đã làm rúng động cả triều đình nhà Hán. Hai năm sau với tham vọng thôn tính Giao Chỉ và cũng để phục hận, nhà Hán tung hai vạn đại quân do Mã Viện làm soái tướng, từ Hồ Nam mở đường xẻ núi tiến đánh nước Nam.

Năm 43 (Quý Sửu), trải dài 4 mặt trận đẫm máu, đạo binh của một nữ tướng trẻ chưa đầy 30 tuổi đã chém chết tướng giặc là Bình Hầu Hán Vũ tại địa danh Lãng Bạc. Nhưng tại mặt trận Mê Linh, các tướng sĩ của hai Bà bị Mã Viện chia quân, dùng thế gọng kềm vây hãm, nên phải lui binh về Kim Khê trấn thủ. Khi Mê Linh thất thủ, các nữ tướng đều nhảy xuống ngã ba sông Hồng và sông Hát tuẫn tiết.

Mã Viện tiếp tục truy đuổi, tập trung hết lực lượng vây đánh Kim Khê. Trong khi địch càng ngày càng gia tăng quân số, quân binh của hai Bà bị kiệt lực nên phải rút lui ra phía sông Hát. Gần đến sông Hát thì bị đạo quân tiên phuông của địch theo kịp, biết đại cuộc đã bại, nhiều tướng sĩ như Cao Thị Liên, Nàng Quốc, Ngọc Kính, Phùng Tú, Phùng Huyền, Hoàng Cát đều tự sát tại mặt trận hoặc cùng hai Bà gieo mình xuống sông Hát tuẫn tiết.

Quân của Mã Viện ồ ạt tiến về Sơn Nam, các tướng lãnh khác rút về Thần Phù. Nữ tướng Tía Nương 20 tuổi đã can trường ở lại ngăn chận mũi tiến công, chống trả với gần 2 vạn tinh binh, cuối cùng không muốn bị lọt vào tay giặc, Tía Nương đã nhảy xuống cửa biển Thần Phù tự ải.

Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đã làm chấn động cả triều đình nhà Hán. Dẫu rằng cô thế, không gặp thời nhưng cũng lưu danh thiên cổ. Lịch sử đã ghi công hai Bà và hàng trăm tướng lãnh dưới trướng cùng hàng ngàn binh sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa. Cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm Nhâm Tý đã viết nên trang sử hào hùng có một không hai trong lịch sử Đông Phương nói riêng và cả thế giới nói chung. Đền thờ hai Bà do dân chúng Lưỡng Việt nhớ ơn lập ra tại xã Hát Môn, đến nay vẫn còn khói hương nghi ngút.

Tiếng trống Mê Linh

Tiếng trống Mê Linh dựng lại tinh thần dân tộc tự chủ và truyền thống chống ngoại xâm thuở nào, một lần nữa đã vang rền trên đất Việt, đồng bào trong nước đang vùng lên tranh đấu giải thể chế độ cộng sản Việt Nam và cùng đồng tâm hiệp lực với đồng bào hải ngoại mở ra trận chiến chống quân xâm lược phương Bắc, để đòi lại chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà tập đoàn lãnh đạo cộng sản ươn hèn này đã dâng hiến.

Sau thời gian dài chịu im lặng, sống nhẫn nhục dưới chế độ độc tài toàn trị của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam, người dân trong nước đã bắt đầu thể hiện hành động đấu tranh, đòi chế độ bất nhân và hèn hạ phải trả lại chủ quyền đất nước cho dân tộc bằng cách, cùng nhau ký tên vào LỜI TUYÊN BỐ CÔNG DÂN TỰ DO để ủng hộ đa nguyên, đa đảng. Hàng ngàn người đã lên tiếng đòi đảng cộng sản VN phải hủy bỏ điều 4 trong hiến pháp, tổ chức Hội nghị lập hiến thật sự của toàn dân, xây dựng thể chế tam quyền phân lập và phi chính trị hóa quân đội Việt Nam. Tính đến ngày hôm nay, 2 tuần sau ngày kêu gọi, đã có trên 7 ngàn chữ ký của đồng bào trong và ngoài nước nhưng số lượng mỗi ngày mỗi gia tăng.

Mới đây, Blogger Huỳnh Ngọc Chênh của Việt Nam đoạt giải Công dân Mạng 2013 do Tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF phối hợp với công ty Google vinh danh. Và bà Tạ Phong Tần được vinh danh trong giải thưởng “Những Phụ Nữ Can Đảm Của Thế Giới” do ông John Kerry, Ngoại trưởng Hoa Kỳ trao tặng vào ngày 8/3/2013, có sự tham dự của đệ nhất phu nhân Michelle Obama, vì những đóng góp phi thường và tinh thần dấn thân tranh đấu bất chấp hiểm nguy cho nhân quyền và nữ quyền. Giải thưởng này vinh danh những nhà văn, nhà báo, blogger can đảm chấp nhận rủi ro để phơi bày thực trạng xã hội và đấu tranh cho công lý, nhân quyền và dân chủ.

Cần nhắc lại, bà Tạ Phong Tần là người phụ nữ tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền bị bắt vào tháng 9 năm 2011 về tội tuyên truyền chống nhà nước vì các bài viết phê phán nhà cầm quyền CSVN.

Ngày 30/7/2012, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Bà đã tự thiêu ở phía trước UBND tỉnh Bạc Liêu để phản đối các cáo buộc đối với con gái của mình. Ngày 4/10/2012, bà Tạ Phong Tần đã bị tuyên án 10 năm tù giam.

Bà Tạ Phong Tần đã tiếp nối tinh thần của hai Bà Trưng, đang kiên cường đấu tranh bất chấp hiểm nguy chống cường quyền và ngoại xâm. Bà rõ ràng là một anh thư nước Việt, xứng đáng là con cháu của Nhị vị Trưng Nữ Vương.

Thế hệ Lĩnh Nam khi xưa nghe tiếng trống Mê Linh vang rền, thôi thúc tinh thần dân tộc tự chủ, đã không ngại hiểm nguy, xông pha trận mạc chống giặc ngoại xâm. Năm nay, tiếng trống Mê Linh một lần nữa đã vang rền trên đất Việt, kêu gọi toàn dân “dẹp nội thù, chống ngoại xâm” và tiếng trống lần này là tiếng trống báo hiệu sự cáo chung của đảng Cộng sản Việt Nam.

This entry was posted in Anh Hùng Dân Tộc, VNTS.

Comments are closed.