Đức Ngô Quyền và trận Bạch Đằng (AHDT)

(Việt Thái – Đài ĐLSN)

Lời mở đầu: Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa có nhiều quốc lễ nhằm tưởng nhớ các bậc tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước, như lễ Hai Bà Trưng, Phù Đổng Thiên Vương, Lê Lai – Lê Lợi, Hưng Đạo Vương v.v… Thế nhưng có một điều kỳ lạ là không có ngày lễ đức Ngô Quyền, người đã lãnh đạo cuộc chiến giành lại nền độc lập tự chủ cho dân tộc, chấm dứt thời kỳ đô hộ hơn 1000 năm của phương Bắc trên đất nước Văn Lang.

Chính vì thế, đây là lúc người Việt khắp nơi nên trả lại sự công bằng cho lịch sử bằng một đại lễ hằng năm, nhằm tưởng niệm công đức cao dầy của thế hệ Ngô Quyền, đặc biệt là trong thời điểm nước Việt đang đứng trước hiểm họa bị Bắc thuộc thêm một lần nữa trước sự ươn hèn của tập đoàn lãnh đạo cộng sản VN.

Với suy nghĩ đó, người viết vui mừng khi biết Tập Hợp Đồng Tâm – một tổ chức luôn cố gắng duy trì và phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” qua đại lễ giỗ đức Quốc Tổ và những buổi lễ giỗ các vị Anh hùng dân tộc mỗi năm tại Nhà Thờ Quốc Tổ Sydney – đã quyết định tổ chức buổi lễ giỗ đức Ngô Vương vào lúc 7 giờ 30 tối thứ Tư, 27/2/2013, nhằm ngày 18 tháng Giêng năm Quý Tỵ.

***

Đức Ngô Quyền, hay còn gọi là Tiền Ngô Vương, vào năm Mậu Tuất (938), người đã lãnh đạo quân dân nước Việt tiêu diệt đạo quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng, chính thức kết thúc hơn một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc. Sau chiến thắng lẫy lừng này, Ngài lên ngôi và trị vì từ năm 939 đến năm 944.

Thân thế và sự nghiệp

Ngô Quyền sinh vào năm Mậu Ngọ (898), tức niên hiệu Càn Ninh thứ 5 hoặc Quang Hóa đời Đường Chiêu Tông của Trung Hoa. Cha là Ngô Mân, châu mục của châu Đường Lâm. Họ Ngô là dòng họ hào trưởng có thế lực, thuộc giới danh gia vọng tộc của châu này. Truyền thuyết kể rằng, khi mới sinh, Ngô Quyền có ba cái nốt ruồi ở sau lưng, thầy tướng số trông thấy và đoán rằng về sau ông có thể làm chúa một phương nên đặt tên là Quyền. Ngô Quyền dáng người khôi ngô, có sức mạnh phi thường, được sử sách mô tả là bậc anh hùng tuấn kiệt, trí dũng song toàn.

Thời niên thiếu của Ngô Quyền cũng là thời kỳ cực suy của chế độ thống trị của nhà Đường tại An Nam. Đô hộ phủ An Nam ngày càng tỏ ra bất lực trong việc khống chế các thế lực địa phương cũng như các thế lực bên ngoài. Người Nam Chiếu đã liên tục tấn công Giao Châu từ năm 858 đến năm 866.

Tại Trung Hoa, các cuộc nổi loạn An Sử (755 – 763) của An Lộc Sơn và vụ khởi nghĩa Hoàng Sào (874 – 884), làm cho nhà Đường phải chật vật đối phó, khiến việc kiểm soát của nhà Đường đối với An Nam ngày càng suy yếu, do đó xuất hiện các thế lực hào trưởng có vai trò ngày càng quan trọng trong guồng máy cai trị. Vì vậy mà họ Khúc, một hào trưởng Hồng châu, đã thành lập chính quyền tự chủ ở An Nam một cách dễ dàng vào năm 905. Thế nhưng, lực lượng họ Khúc chưa đủ mạnh nên đã thất bại trước sự xâm lấn của nhà Nam Hán.

Năm 931, thế lực họ Dương ở Ái Châu lật đổ guồng máy cai trị của nhà Nam Hán, đánh bại Lý Tiến, Trần Bảo ở thành Đại La. Hào trưởng Dương Đình Nghệ trở thành Tiết Độ Sứ của chính quyền người Việt.

Thế lực họ Dương nắm quyền ở Đại La được sự ủng hộ của nhiều thế lực địa phương khác, trong đó có dòng họ Ngô của Ngô Quyền. Cuộc hôn nhân giữa Ngô Quyền và con gái của Dương Đình Nghệ là Dương thị trở thành cuộc liên minh chính trị giữa hai dòng họ. Sau khi kết hôn, Ngô Quyền trở thành một tướng lãnh của Dương Đình Nghệ, được tin tưởng và trọng dụng nên được giao quyền cai quản vùng Ái châu, vùng đất bản bộ của họ Dương vào năm 932.

Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn hạ sát Dương Đình Nghệ để đoạt chức vị Tĩnh Hải Quan Tiết Độ Sứ. Nhưng họ Kiều không có chỗ dựa chính trị vững chắc, nên việc đoạt quyền bị nhiều thế lực địa phương chống đối và nội bộ họ Kiều cũng bị chia rẽ trầm trọng. Trước tình thế đó, Kiều Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán.

Nghe hung tin, Ngô Quyền liền tập hợp mọi lực lượng, kéo quân ra Bắc giết chết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị cuộc quyết chiến với quân Nam Hán.

Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng vào năm 938 đã chấm dứt cuộc xâm lược của nhà Nam Hán, đồng thời cũng kết thúc luôn thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả 1000 năm của quân xâm lược phương Bắc.

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập ra nhà Ngô, đặt ra chức quan văn, quan võ và quan nghi lễ trong triều đình. Đức Ngô Quyền trị vì được 6 năm, được dân Việt xem là anh hùng của dân tộc và là vị Tổ trung hưng của nước Việt.

Trận Bạch Đằng

Năm 938, Ngô Quyền tiến quân vào thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn và nhanh chóng tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng. Lợi dụng mức thủy triều lên xuống của sông Bạch Đằng, đức Ngô Quyền sai quân đóng cọc dưới lòng sông, đầu cọc bịt sắt nhọn. Khi thủy triều lên cao thì bãi cọc bị che khuất, Ngài dùng kế nhử quân Nam Hán vào khu vực này và đợi thủy triều rút xuống làm cho thuyền quân Nam Hán bị mắc cạn mới điều động toàn quân dùng thuyền nhỏ lao ra công hãm.

Quân Nam Hán đại bại. Thái tử Nam Hán là Lưu Hoằng Tháo thiệt mạng cùng với hơn phân nửa quân sĩ. Kể từ đó, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm chiếm An Nam.

Nhận định về trận chiến thắng lẫy lừng này, sử gia Ngô Thì Sĩ thời Hậu Lê viết rằng: “Chiến thắng trên sông Bạch Đằng là nền tảng căn bản cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công của các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần sau này vẫn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Chiến thắng Bạch Đằng vang dội đến nghìn thu, là một chiến công hiển hách của dân tộc Việt”.

Trị vì

Mùa xuân năm 939, đức Ngô Quyền xưng vương, trở thành vị vua sáng lập ra nhà Ngô. Kinh đô của triều đại mới không đặt ở thành Đại La mà chuyển sang thành Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một ngàn năm trước.

Giải thích về việc đức Ngô Quyền không chọn Đại La sầm uất và là trung tâm chính trị của nhiều thế kỷ trước đó, các sử gia cho rằng có 2 nguyên nhân chính:

-Tâm lý tự tôn dân tộc và ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước từ kinh nghiệm cũ để lại.

-Ý thức dân tộc trỗi dậy, tiếp nối truyền thống của An Dương Vương, quay về với kinh đô thời Âu Lạc, biểu hiện ý chí đoạn tuyệt với thành Đại La do phương Bắc lập nên.

Cần nhắc lại, Đại La là thủ phủ bị cai trị do các triều đình Trung Hoa lập ra. Đây là trung tâm thương mại sầm uất do các thương gia người Hoa nắm giữ và là nơi tập hợp nhiều người phương Bắc, từ các quan lại cho đến các nhân sĩ từ Trung Hoa sang lánh nạn và các thương nhân. Thế lực của người Hoa ở Đại La rất mạnh, do đó lực lượng này có thể tiếp tay làm nội ứng nếu quân Bắc phương trở lại. Rút kinh nghiệm việc Khúc Thừa Mỹ thất trận nhanh chóng và bị quân Nam Hán bắt về Phiên Ngung, nên đức Ngô Quyền không chọn thành Đại La làm kinh đô.

Ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944), Ngô Vương băng hà, hưởng dương 47 tuổi. Ngài không có miếu hiệu và thụy hiệu và sau đó sử sách chỉ gọi ngài là Tiền Ngô Vương.

Con cái

-Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập là con trai trưởng của đức Ngô Quyền, sinh ra vào khoảng thập niên thứ hai của thế kỷ thứ 10. Tiền Ngô Vương truyền ngôi cho Ngô Xương Ngập nhưng bị người cậu là Dương Tam Kha cướp ngôi, Xương Ngập phải bỏ trốn. Năm 950, người em trai là Ngô Xương Văn, tước hiệu Nam Tấn Vương, nổi lên lật đổ Dương Tam Kha và rước Xương Ngập về làm vua, tước hiệu Thiên Sách Vương. Năm 954, Thiên Sách Vương băng hà, Nam Tấn Vương lên nắm quyền và khi ông qua đời vào năm 965 thì nhà Ngô cũng sụp đổ vì loạn Thập Nhị Sứ Quân.

Nhận định

Sử gia Ngô Sĩ Liên ca tụng đức Ngô Quyền là một thiên tài về quân sự, có công dựng lại nền tự chủ cho đất nước, đồng thời cho rằng nền cai trị của Ngài có phong thái của một bậc đế vương. Cụ Phan Bội Châu và ông Trần Quốc Vượng đều tôn vinh đức Ngô Quyền là “vua Tổ phục hưng dân tộc”.

Trong số những nhà cầm quyền Việt Nam vào thế kỷ thứ 10, Ngài cùng Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành là những nhân vật được người đời sau nhắc nhở nhiều nhất.

Đền thờ

Đền thờ và lăng đức Ngô Quyền ở Đường Lâm hiện là một địa điểm du lịch, và cũng là nơi linh thiêng nổi tiếng của làng cổ này. Đền được xây dựng bằng gạch, lợp ngói mũi hài, cửa quay về hướng Đông, có tường bao quanh. Qua tam quan, hai bên có tả mạc, hữu mạc, với mỗi dãy nhà gồm năm gian nhỏ. Chính điện có tấm hoành phi khắc bốn chữ “Tiền Vương bất vọng”. Ngày nay tòa chính điện này được dùng làm phòng trưng bày về thân thế, sự nghiệp của ngài cũng như triển lãm cổ vật trong trận chiến Bạch Đằng.

Lăng đức Ngô Quyền có mái che, cao 1 thước rưởi, bia đá được khắc thời Tự Đức, có ghi bốn chữ “Tiền Ngô Vương lăng”. Tương truyền trước khi đánh quân Nam Hán, đức Ngô Quyền đã đóng quân, chiêu mộ nhiều binh sĩ ở An Dương (nay thuộc Hải Phòng). Dân làng nơi đây đã đầu quân làm cận vệ và là lực lượng cắm cọc gỗ xuống lòng sông Bạch Đằng. Hằng năm vào trung tuần tháng 2 âm lịch, đình mở hội, cúng tế, có hát ả đào, hát chèo, múa hạc gỗ và nhiều trò vui chơi khác. Quanh khu vực hạ lưu sông Bạch Đằng có hơn 30 đền và miếu thờ đức Ngô Quyền cùng thế hệ nhà Ngô.

Người viết dâng ba nén hương thành kính tưởng nhớ công đức của vị đại anh hùng của dân tộc và thế hệ Ngô Vương. Nguyện xin Ngài và Hồn thiêng Sông núi phù trợ cho đồng bào trong và ngoài nước sớm dựng lại ngọn cờ tự chủ với sức quật cường của dân tộc, cùng đồng tâm hiệp lực vùng lên chiến đấu “diệt nội thù, chống ngoại xâm”, giải thể chế độ Cộng Sản, đòi cường quyền phương Bắc trả lại đất đai đã chiếm đóng, để con dân nước Việt được tự do, vui sống trong cảnh thanh bình thạnh trị.

 

 

This entry was posted in Anh Hùng Dân Tộc, VNTS.

Comments are closed.